 yêu chộng những người có ngoại hình thon thon (hai vòng bụng và vòng mông không xê xích nhau mấy), tiến đến thời kỳ ưa chộng mỹ thuật lưng eo. Ở Trung Quốc xưa người ta thích nguời chân bó, rồi thích thay đổi theo thời thuợng. Con người cũng có những sự khác nhau về thẩm mỹ, về luyến ái quan, người thích béo, người thích gầy, người thích rậm, người thích thưa, thích đen, thích trắng. Do đó tư thế giao quan cần được chấp nhận bởi sự tương thông tương cảm của cả hai, không nên do đơn phương tự quyết. Vậy thì tuỳ theo thể lực, sở thích và kinh nghiệm để đi đến sự hòa hợp . 
Thế Rồng Bay hay thế Phượng cũng là giúp ích cho sự hòa hợp ấy để cho cả hai đạt được tới cao trào . 
THẾ THỎ (Thế thỏ liếm lông - Thép thứ bảy trong cửu pháp) 
Huyền nữ giảng đến phép thứ bảy về Thế Thỏ, nói rằng : "Thế này người nam phải nằm giữa, duỗi thẳng chân, người nữ xoay lưng lại dạng chân, chóng tay xuống nệm, quỳ bằng hai đầu gối co, cưỡi lên nguời nam, đầu cúi xuống nhòm chỗ đích. Dương cụ nam nhân chà xát vào hai cánh cửa và âm hạch của xuân cung. Nữ nhân cảm thấy khoái hoạt, âm thủy rạt rào, đưa dương cụ vào tận trong đến lúc đạt tới cao trào thì hãy ngưng ngay động tác để cho bách bệnh khỏi sinh ra. 
GHI CHÚ: 
Trong thế này, nữ nhân có lúc cúi đầu cong lưng xuống để tự xem mình, trông hệt như con thỏ bạch cúi xuống liếm lông, liếm bẹn. Người nam nằm duới có cái hứng thú là đôi tay được tự do nâng đỡ bộ mông, bộ đùi nguời nữ và muốn thưởng thức chỗ nào trên thân thể nữ nhân cũng được. Nhưng phần linh hoạt phải nhường cho nữ nhân chủ động; lên xuống qua lại, bốn phía xoay tròn đều do hạ bàn nữ hoạch định. Nam nhân cũng đôi khi phụ lực nhưng nếu xuân cung quá trơn hoạt thì duơng cụ dễ bị trượt ra ngoài, cho nên, tốt nhất nên để cho nữ nhân tinh tế nhận xét lúc nào nên nhích lên lúc nào nên nhích xuống, lúc nào nên nghỉ ngơi, lúc nào nên vũ bão. Chớ nên để cho hứng tình làm chủ hoàn toàn mà tự tung tự tác làm cho con cá quẩy lội tung tăng khiến cho dương cụ bị tỗn hại . 
Ta nên nhớ rằng nữ tính vốn thụ động và đa số phép giao hợp đều để nữ nhân nằm dưới mà tiếp thụ ; nên khi ở thế này người nữ có nhiều phát kiến xoay xở, nhiều lúc tựa như nhu nhược, êm ái ; nhiều lúc áp dụng áp lực nặng nề khiến cho nam nhâân hưởng được hưởng nhiều cảm khoái khác nhau bằng những cường độ kích khích khác nhau . 
THẾ CÁ (Cá tiếp vẩy - Phép thứ tám trong cửu pháp) 
Thế này, - Huyền nữ nói - Người nam cũng phải nằm ngửa duỗi thẳng hai chân để cho người nữ quay đầu về phía mình, dang chân cưỡi lên. Người nữ lựa chiều hạ bộ mông mình xuống từ từ, cho hai cánh của xuân cung mở ra đón dương cụ. Nên nhớ là phải từ từ và đừng vội vã cho vào sâu ngay. Hãy làm như cách đứa trẻ ngậm đầu vú mẹ. Người nam cũng chớ hấp mà hẩy vào ngay. Người nữ cứ thong thả mà hoạt động, tuỳ thời tuỳ lúc, tuỳ hứng. Khi nam nhân thấy nữ nhân đạt được cao trào thì hãy ruct còi thu binh để cho thu đuợc phần dưỡng sinh, tiêu bệnh. 
GHI CHÚ: 
Trong thế này, nữ nhân vốn nhu hòa, thụ động trao việc thi hành tính giao, nay đuợc nắm phần chủ động nên rất cao hứng, tuy nhiên thiên tính nữ vẫn nhuần nhã từ tốn. Còn nam nhân, được lợi thế chờ đợi, ngắm nhìn nữ nhân hoạt động, hai tay cứ việc thưởng thức sờ soạn toàn bộ sau, bộ trước của nữ nhân. Nữ nhân đuợc nam nhân xoa nắn mông đùi nhũ hoa như thế càng lúc càng cảm thấy phấn chấn rào rạt, quên cả thiên tính ôn nhu, cũng học tập làm anh hùng dũng mãnh, thật chẳng khác gì hổ mọc thêm cánh, cá được tiếp vây . 
Đó là ý nghĩa đặt tên cho phép này . 
Đôi nhũ hoa rất có quan hệ đến tính giao. Đại phàm nhũ hoa bị chạm thì cảm giác cũng lan tơí tận hạ bộ. Mà nam nhân nào trông thấy bộ nhũ hoa cũng muốn đưa tay xoa nắn, thế nàøy khác với thế thỏ liếm lông chỉ ở chỗ ấy. Trong thế Thỏ thì người nữ đưa mông lại phía nam còn như trong thế Cá thì người nữ quay mặt để nhìn mặt người nam để lộ hai nhũ hoa, dù to, dù nhỏ, cũng muốn cho người nam xoa nắn. Càng được xoa nắn bao nhiêu, xuân cung càng tràn ứa. Cả hai điều được đi đến chỗ no đủ, thoả mãn tình ý . 
THẾ HẠC (Hạc gác cổ - Phép cuối cùng trong cửu pháp) 
Huyền Nữ tiếp tục giảng đến phép cuối cùng là thế "Hạc Gác Cổ". Người nam ngồi theo kiểu quỳ chân xuống, hơi dạng hai đầu gối ra để đỡ bộ mông nữ nhân ngồi lên. Người nữ cũng dạng hai đùi và hai tay quàng quanh cổ người đàn ông đồng thời để xuân cung hạ thấp xuống cho dương cụ chà xát âm hạch trước khi cho dương cụ được phép vào khám hiểm trong tuyệt cùng sâu thẳm của xuân tình . 
Nữ nhân, trong thế này, cảm thấy khoái lạc, lúc âm thuỷ nhỏ giọt là lúc sướng khoái lên đến cao độ. Lúc ấy biết kềm chế đình chỉ để tránh xuất tinh thì vạn bệnh thất thương đều trị tuyệt, con người ta sống thêm tuổi thọ, khang trang mạnh mẽ. 
GHI CHÚ: 
Huyền nữ lại nói thêm đến các phép ngoại như " Tam Thập Pháp" của Động Huyền Tử hoặc "Song Tu Pháp " của Đạt Ma xưa đã từng truyền cho Thuận Trị Hoàng Đế. Những phép này cũng do chín thế của Tố Nữ Kinh mà biến đổi. Tố Nữ Kinh mục đích viết ra để cho người muốn tập dưỡng sinh biết đường mà cầu học không ép xác mà được hưởng khoái cảm thiên nhiên dành sẵn cho thân thể. Dưỡng sinh là cầu khang kiện và trường thọ, lại cũng cho hòa hợp tâm thần, nữ cũng như nam biết được điều khoái cảm. Vì thế trong sách này không chỉ bảo các tập thế dùng cho trường hợp hai nam một nữ hoặc ngược lại . 
Lại nói danh xưng của các thế, thì trong Tố nữ kinh cùng Song Tu Pháp cũng từa tựa như nhau, cũng thếLong, thế Hổ, thế Ngư, thế Phụng .v.v.riêng trong Song Tu Pháp không cầu sự hoà hợp và khoái cảm của nữ nhân chỉ cầu mục đích của nam nhân nên chú trọng thời khắc của " vị khác đến thăm xuân cung " nhiều hơn. Song Tu Pháp ghi rằng : 
Thế Rồng thì
8 lần cạn 
5 lần sâu 
Thế Hổ thì 
5 lần cạn 
3 lần sâu 
Thế Vượn thì 
9 lần cạn 
6 lần sâu 
Thế Ve sầu thì 
10 lần cạn 
4 lần sâu 
Thế Phượng thì 
6 lần cạn 
2 lần sâu 
Thế Thỏ thì 
4 lần cạn 
1 lần sâu 
Thế Hạc thì 
10 lần cạn 
7 lần sâu 
Còn thế Rùa và thế Cá không thấy ghi.(Trong Tố Nữ Kinh có nói đến thế Rồng người Nam thì phải theo tỉ lệ 8 lần cạn 2 lần sâu). 
Các phương pháp yêu nhau cho khoẻ mạnh cường tráng

Các phương thức yêu nhau để chữa trị cho nhau khỏi tổn thương, bệnh hoạn . 
Ngoài chín phép hay tư thế đã được lược trình ở trên còn tám phép làm cho thân thể thêm cường tráng, bách bệnh tiêu trừ gọi là " Bát Ích " - tám điều lợi ích - lại có bảy phép gọi là "Thất Tổn" - bảy thứ suy kém để chỉ bảo cho nam nữ cách chữa trị căn bệnh làm suy mòn thân lực. Tất cả những phép trên đều căm cứ vào mục đích làm cho âm dương điều hòa, dụng kỹ thuật tính giao mà làm cho nam nữ được thú sướng kiên cố mà trị bệnh và cầu mạnh khỏe sống lâu. 
Căn cứ vào Đông Y, phân thành nội ngoại thì bên trong con người ta có ngũ tạng và đó là gốc rễ để cho ngoại hình (dáng dấp bên ngoài) của ta phát triển. Cả hai nội ngoại bổ cứu, điều hòa thì thân thể ta sẽ được cường tráng, vô bệnh, sống lâu. 
Trong sách "Hoành Đế Nội Kinh Tố Vấn" có nói rằng : 
"Tâm khỏe thì máu đỏ tươi nhuận, Phổi khỏe thì da mở, lông trơn, Gan khỏe thì gân mạnh, móng chân cứng rắn; Tỳ khỏe thì thịt dai, môi đỏ, Thận khỏe thì xương thẳng chắc, tóc râu rậm mướt". 
Bát Ích Pháp chính là để giúp cho Tâm, Phế, Can, Tỳ, Thận bổ khỏe ngõ hầu con người ta được vui hưởng cái sức mạnh, sự bền bỉ sáng suốt mà ngũ tạng đã là nguyên động lực. Tư thế nam nữ áp dụng trong Bát Ích Pháp này cũng là do "Chín Thế" đã trình bày ở trên mà biến hóa ra và có nhiều phụ thế nằm nghiêng hơn là ở các "thế mẹ" nguyên thủy. Người nữ trong "Bát Ích Pháp" thường phải co đầu gối, dạng đùi ra lưng phải dẻo để xoay chuyển hợp tác vận động. làm cho đung thì lợi ích vô kể, có thể nói rằng kéo dài được thời thanh xuân và tới già vẫn thiếu tráng. 
I. BÁT ÍCH 
Phép Bát ích thứ nhất : Cố tinh (Bền bỉ tinh khí) 
Người nữ nằm nghiêng, xoạc hai đùi, đùi trên cong cong lại vào thân mình. Nam nhân cũng nằm nghiêng, đối mặt với bạn tình. Dương cụ ấn sâu vào mật cung, rút ra ấn vào 18 lần liên tiếp. Hết số đó thì ngưng, dưỡng thần. 
Mỗi ngày "luyện tập" hai lần như vậy. Tập như vậytrong 15 ngày thì nam nhân dịch đầy đủ; nữ nhân trừ được bệnh nguyệt qúy tháng tháng xuất ra nhiều hơn bình thường. 
Phép Bát ích thứ hai : An Khí (Luyện khí khỏi vọng động, thần thái nhẹ nhàng) 
Người nữ nằm ngữa, đầu gối trên một chiếc ghế cao, hai chân dang thẳng, dạng đùi, nam nhân quỳ xuống giữa hai đùi người nữ, phủ lên người nữ và cho dương cụ xâm nhập vào xuân cung, rút ra cho vào 27 lần. đúng số này thì rút lui (để trách xuất tinh ). Được như thế tâm thần sẽ được an tĩnh, phong thái sãng khoái, thơ thới, không biết âu lo, bồn chồn. Nữ nhân cũng được lợi, khỏi chứng lãnh âm, một bệnh diệt trừ khoái cảm giao hợp mà nhiều nữ nhân mắt phải. 
Pháp này phải áp dụng ngày 3 lượt ;liên tục trong hai chục ngày, sẽ thấy kiến hiệu. 
Phép Bát tích thứ ba : Lợi tạng (Bổ ích cho ngũ tạng) 
Người nữ nằm nghiêng hai đùi co lên, để lộ toàn bộ phía mông. Người nam nằm nghiêng phía sau đưa dương cụ vào mật cung, ra vào 36 lượt. Rồi thêm quân (thế này ta quen gọi là nằm theo lối úp thìa). Mỗi ngày thực hành 4 lần. 20 ngày sẽ thấy kiến hiệu : trai thì tâm bình, khí hòa, nữ thì tuyệt chứng lãnh cảm (lợi ích cũng như phép 2). 
Phép Bát tích thứ tư : Cương cốt (Mạnh xương, gân) 
Người nữ nằm nghiêng. Đùi bên trái co lên bụng. chân phải dũi thẳng. Người trai nằm lên trên, hạ bụng đè lên mông người nữ đưa dương cụ vào mật cung, ra vào 15 lần rồi rút lui luôn. Mỗi ngày thực thi 5 lượt như thế, trong mười lăm ngày, nam nữ sẽ thấy gân xương khoan khoái, thân thể nhẹ nhàng. Người nữ bị chứng bế kinh (nguyệt bảo chậm hoạt không ra được ) cũng khỏi. 
Phép Bát tích thứ năm : Điều mạch (Thống huyết)
Người nữ nằm nghiêng về bên phải, co chân phải lên vàduỗi thẳng chân trái. Người nam nằm phục lên trên ôm lấy người nữ và liệu chiều cho dương cụ thâm nhập vào mật cung, ra vào 54 lần. Mỗi ngày 6 lượt trong 24 ngày. Được vậy tâm mạch sẽ đều đặn, khí huyết lưu thông ;người nữ thì khỏi chứng bị đau âm đạo, đau dạ con. 
Phép thứ năm này cùng với phép thứ tư giống nhau, chỉ khác ở thế nằm người 